Một số thảo luận kỹ thuận lập quẻ.

Thảo luận trong 'Một số thảo luận khác' bắt đầu bởi Dự đoán Chu dịch, 20 Tháng tám 2012.

  1. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    Dưới đây xin trích một số thảo luận về kỹ thuật lập quẻ (Nguồn: Tuviglobal.com/chudich). Đây là những thảo luận có giá trị để mọi người tham khảo.
  2. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 633.

    HỎI:

    Gửi thầy Chu Tử Nam
    Em đọc các câu trả lời của thầy thì thấy lập quẻ theo phương pháp tính danh sẽ cho ta biết "hướng đi" của người được lập quẻ, nhưng em không biết khi lập quẻ theo ngày tháng năm sinh sẽ cho ta biết thông tin gì của người cần xem? Thầy có thể trả lời rõ giúp em không ạ?
    Em cảm ơn thầy.

    Đáp::

    Gởi em Ngô Khang,

    Tôi sẽ trả lời điều em thắc mắc cho có đầu, có đuôi một chút.

    Sự phát triển của môn Dự Đoán Chu Dịch, thăng trầm theo dòng lịch sử
    qua các giai đoạn, ghi nhận theo kỹ thuật lập quẻ như sau :

    1- Đốt mai rùa, xem các vết nứt.
    2- Gieo bằng cỏ thi.
    3- Gieo đồng tiền & các biến thể của cách gieo đồng tiền.
    4- Lập quẻ theo Mai Hoa của nhà triết học Thiệu Khang Tiết đời Tống bên Trung Hoa.
    5- Lập quẻ theo Sáu Hào.

    Trong 5 dòng kỹ thuật ấy, theo quan sát của tôi
    gieo đồng tiền & kỹ thuật Mai Hoa là đắc dụng và hiệu quả nhất.

    Lập quẻ theo thời gian, ta hay gọi như thế, chính là một trong các kỹ thuật lập quẻ theo Mai Hoa của Thiệu Khang Tiết (Thiệu Ung).

    Kỹ thuật gieo đồng tiền & các biến thể được giới bói toán hành nghề chuyên nghiệp
    mà ta thường gọi là thầy bói, rất ưa chuộng.
    Bởi nó nói đúng ngay được tâm trạng của người đến xem.

    Kỹ thuật Mai Hoa tuy không đạt được khả năng dự đoán đúng ngay tâm trạng như kỹ thuật gieo đồng tiền, nhưng nó có khả năng: Dự đoán từ xa & không lệ thuộc vào người hỏi. Kỹ thuật gieo đồng tiền không làm tốt được điều này. Các nhà dự đoán “Ẩn danh” rất thích kỹ thuật Mai Hoa.

    Gieo đồng tiền có ưu điểm giải quyết tốt từng tình huống cụ thể. Thế nhưng, khả năng xem từ xa thì rất kém.
    Kỹ thuật Mai Hoa có ưu điểm khi coi từ xa, nhưng tính chính xác trong từng tình huống kém hơn hẳn so với kỹ thuật gieo đồng tiền.

    Liệu có kỹ thuật nào có được cả 2 ưu điểm ấy:
    Coi từ xa & tính chính xác cao trong từng tình huống.

    Kỹ thuật lập quẻ theo Tính Danh gom được cả 2 ưu điểm ấy.
    Ban đầu, chỉ là kỹ thuật lập quẻ Tính Danh.
    Sau, nó được xây dựng nên mang tính có hệ thống.
    Từ hệ thống ấy, tạo nên 2 hướng đi chuyên biệt:

    1- Dự đoán Tính Danh.
    2- Chu Dịch Tướng Học.

    Chu Dịch Tướng Học, tôi đã có một bài viết giới thiệu.
    Em hãy xem đường link ở đầu trang.

    Dự Đoán Tính Danh, tôi đã có giới thiệu một vài kỹ thuật.
    Tuy nhiên, phần cốt lõi & tinh túy nhất,
    tôi đặt ở trong cái gọi là PHƯƠNG PHÁP 5&6
    mà tôi dành riêng cho những bạn đạt yêu cầu qua 4 kỳ thi trong năm Kỷ Sửu, 2009.

    Tóm lại:

    Kỹ thuật lập quẻ theo Tính Danh là một kỹ thuật hoàn mới.
    Kỹ thuật này tách biệt và khác hoàn toàn so với 5 dòng kỹ thuật trước đó.
    Ky thuật này tạo lập nên 2 hướng đi mới:
    Dự Đoán Tính Danh & Chu Dịch Tướng Học.

    Dự Đoán Tính Danh làm được mọi điều.
    Không như em đương nghĩ: Chỉ cho ta biết hướng đi.
  3. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 577.

    HỎI:

    kính gửi anh nam ! tôi xin cảm ơn anh vì anh đã hồi âm sớm cho tôi và còn sửa bài giúp tôi .cách lập quẻ của tôi là từ hiểu sai và suy diễn mà ra , tôi cũng có đọc bài trả lời của anh và nghe anh nói ; những con số có thể quy ra các ký tự , những câu chữ đó có thể lập quẻ theo tính danh , tôi đã làm theo cách đó .
    tôi cũng xin hỏi anh vài điều :
    1 , khi tự xem cho mình , thì có thể viết ra trên giấy một câu hỏi đúng với sự việc mình đang cần , sau đó lập quẻ theo vận khí tính danh được không ?
    2 , ví dụ khi đọc được những thông tin về con số , tôi lấy con số mà tôi gửi anh làm ví dụ : 1837 , thì cách lập quẻ theo như cách anh chỉ . nhưng nếu ví dụ đó là con số :
    1837,20 thì cách lập quẻ có gì thay đổi không anh ?
    mong anh chỉ dạy . cảm ơn anh nhiều
    nguyễn doãn vinh
    Đáp::

    Gởi anh Doãn Vinh,

    Cái khó của người mới học thường là: Khi nào thì ta lập quẻ ? Lập quẻ cách nào là đúng nhất ?

    Thắc mắc thứ nhất, tôi sẻ trả lời câu hỏi của anh ở góc độ tổng quát :

    Có hai hướng lập quẻ:
    1- Hoặc tự trang bị cho bản thân một thể thức lập quẻ duy nhất, một phương pháp luận duy nhất.
    2- Hoặc tùy theo tình huống thực tế mà lập quẻ, và chọn pp luận phù hợp căn cứ vào tình huống.

    Chọn cách thứ nhất,
    thì cách lập quẻ ấy phải là công thức lập quẻ hoàn hảo,
    phương pháp luận phải mang tính bao quát trong mọi lãnh vực.
    Liệu có khả năng tồn tại “Một cái duy nhất” giải quyết được mọi vấn đề, trong mọi lãnh vực ?
    Đã có trường phái đi theo xu hướng
    sử dụng duy nhất thể thức thời gian để lập quẻ (hoặc gieo đồng tiền),
    và dùng phương pháp luận duy nhất: Nhân – Quả để luận giải.

    Chọn cách thứ hai, tùy tình huống mà ta chọn thể thức lập quẻ.
    Xưa nay, ta có các thể thức lập quẻ như sau:
    1- Gieo đồng tiền & các biến thể.
    2- Gieo theo tổng số lượng nét chữ, ký tự, hoặc ký hiệu.
    3- Gieo theo giá trị số lượng. Thường dùng cho các con số.
    4- Gieo theo thời gian. Ở thể thức này, ta thấy sự xuất hiện một kỹ thuật riêng biệt: Lập quẻ Sáu Hào.
    5- Gieo theo phương hướng.
    6- Gieo căn cứ vào Tượng mà lập quẻ (vd: điện thoại là hỏa, xe ngựa là Địa, cây dù là Phong…)
    7- Không lập quẻ. Luận theo Thiên ứng – Ngoại ứng.

    Tôi nhận xét về 7 thể thức trên:

    * Thể thức (7): ta muốn dự đoán, thế nhưng, vào thời điểm xung quanh chỉ có ta, ở riêng trong căn phòng với những vật thể bất động, thì thể thức này gần như vô tác dụng.

    * Thể thức (6): Mang nhược điểm tương tự như thể thức (7). Phải có sự kiện diễn ra xung quanh, ta mới lập quẻ được.

    * Thể thức (5): Qui định 8 quái cho 8 độ tuổi, vô hình trung đã giới hạn đến mức quá thấp số lượng quẻ Dịch được dùng để luận. Điều này sẽ khiến sẽ xảy ra tình huống trùng lặp khi muốn dự đoán cho nhiều người, cho nhiều sự việc trong 1 canh giờ. Dùng một quẻ để coi cho nhiều người, tính xác suất sẽ xuất hiện. Tức là khả năng dự đoán sai sẽ xuất hiện ngoài ý muốn.

    * Thể thức (3): Thể thức mang tính chuyên biệt. Ở một số trường hợp, tính chính xác của thể thức đã tỏ ra thật đáng để ta quan tâm . Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp mà thể thức đã gây nên sự ngờ vực chính đáng về tính chính xác của nó.

    * Thể thức (2): Thể thức có vẻ như là một cách tiếp thu từ công thức tính quẻ bên lập quẻ theo thời gian. Do cách tính từ tổng số , nên số lượng quẻ Dịch bị giới hạn. Tính xác suất xuất hiện. Vì thế, tính chính xác không cao.

    * Thể thức (4): Lập quẻ theo thời gian, cứ sau 24 ngày quẻ Dịch sẽ lặp lại. Tổng cộng có 288 quẻ Dịch cho ta sử dụng. Xưa nay, thể thức được giới dự đoán đánh giá rất cao về tính hiệu quả & hiệu dụng. Theo kinh nghiệm nơi người viết, kết quả dự đoán rất đáng ngạc nhiên về độ chính xác nó. Thể thức có cái hay là đã giải quyết được một vấn nạn trước đó: Phải gieo đồng tiền mới có cái để dự đoán. Nay chỉ cần có người hỏi, là ta có thể thực hiện công việc dự đoán ở bất cứ vị trí nào. Một biến thể mạnh mẽ của thế thức, đó là Dự Đoán Sáu Hào. Dự Đoán Sáu Hào quá phức tạp ở khâu luận giải. Và lý thuyết ở khâu luận giải còn có nhiều điều cần phải bàn. Về tính hiệu quả, nó cũng không vượt qua được thể thức (4). Có hơn chăng là Dự Đoán Sáu Hào đi sâu vào chi tiết của sự kiện. Tuy nhiên, tính đúng, sai của chi tiết ta vẫn chưa bàn đến.

    * Thể thức (1): Thể thức tuy đã có từ rất xa xưa, có lẻ chỉ đứng sau lập quẻ Cỏ Thi. Xưa thì có, nhưng cũ kỹ thì hoàn toàn không. Thể thức có số lượng quẻ Dịch xuất hiện cực kỳ lớn, đủ khả năng để vượt qua được tính xác suất. Và thực tiễn dự đoán cho thấy: Nó như đọc được tất cả & rất rõ những gì người ta đương suy nghĩ, cứ như đi guốc trong bụng vậy. Thế nhưng, có một nhược điểm: Người nào hỏi, người ấy gieo, có muốn biết về người khác là điều không thể…. Liệu có một phương cách nào có khả năng xử lý cái nhược điểm quá to ấy ? Nếu xử lý được, ta có thể ngồi đây mà…. biết được tên Bin Laden đang suy nghĩ gì. Liệu có quá hoang tưởng chăng ? Có đi đến khả năng ấy được hay không, thì chưa rõ. Riêng tôi, hiện đang cố gắng thiết lập hai hướng để tiếp cận cái cách xử lý ấy…. Gieo đồng tiền, coi việc ngoài đường.

    Tóm lại:

    1- Thể thức lập quẻ theo thời gian, người xưa để lại cho chúng ta, là thể thức đắc dụng và khả thi nhất.
    2- Thể thức gieo đồng tiền & các biến thể, là thể thức mang trong nó tiềm năng rất đáng để chú ý.

    Riêng nói về Hệ Thống Dự Đoán Vận Khí Tính Danh, hay gọi tắt là Vận Khí Tính Danh,
    có hai thể thức lập & luận giải hoàn toàn mới.
    Tôi dành ưu đãi riêng đến với những bạn đọc có khả năng và phù hợp với hệ thống này.
    Trong năm nay 2009, tôi mở 4 kỳ thi để tuyện chọn.
    Cuối tháng 4, cuộc thi kỳ 2 sẽ diễn ra.

    Ngoài ra, với lượng kiến thức về Vận Khí Tính Danh tôi đã có trình bày trên trang,
    các bạn có thể trải nghiệm tùy ý.

    Anh Doãn Vinh cũng nằm trong giới hạn đấy.
    Mong được anh thông cảm.


    Thắc mắc thứ hai, bàn về các con số:

    Ở bài trước, anh Doãn Vinh lập ra quẻ Địa Thủy Sư từ “một tám ba bảy”.
    từ con số trên sàn giao dịch (Hungary ?). Có 2 câu hỏi được nêu ra:

    Câu hỏi thứ nhất:
    Tính hợp lý có cho phép “biên dịch” 1 con số mang giá trị về lượng sang
    1 dãy chữ mang giá trị số lượng ký tự ?
    Ở đây là: 1837 (một ngàn tám trăm ba mươi bảy) >> Một tám ba bảy.
    Như vậy:
    1837 >> một ngàn tám trăm ba mươi bảy
    là hợp lý hơn Một Tám Bảy Ba.

    Câu hỏi thứ hai:
    Việc “biên dịch” từ số qua chữ Việt liệu có vi phạm nguyên tắc
    bảo toàn dữ liệu theo nguyên lý Chủ - Vị,
    khi sàn giao dịch vận động theo ngôn ngữ Hungary ?
    Có, có vi phạm.
    Bởi:
    Nguyên lý Chủ - Vị phát biểu: Thiểu vi Chủ, Thủ vi Tiên (Lấy ít làm chủ, ưu tiên bản gốc)

    Vậy, ta nên ‘biên dịch’ như sau:
    1837 >> một ngàn tám trăm ba mươi bảy (ngôn ngữ Hungary).

    Vấn đề còn lại: dòng ký tự ấy liệu có lập được quẻ không ?
    Về lý thuyết là được, theo Vận Khí Tính Danh.
  4. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 62.

    HỎI:

    chào thầy!em đã được đọc sách Đạo Của Người Quân Tử của Nguyễn h Lê.nhưng trong sách đó không có nói đến Dự Đoán.em rất muốn học.em đã đọc hết những câu hỏi và trả lời,nhưng không thể gom lại theo một trình tự được.em nên bát đầu từ đâu ah.
    Đáp::

    Em Tuyet Minh,

    Đến câu số 45, mới thấy em là người đầu tiên đặt đúng vấn đề.
    Em hãy bắt đầu như sau:

    Em sử dụng quyển sách của học giả Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch _ Đạo Của Người Quân Tử.

    Mở mục lục tìm trang có đồ hình Tiên Thiên Bát Quái….
    Điền các con số từ 1 đến 8 cho các vị trí theo thứ tự sau:
    Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

    Và:
    Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.
    còn có tên gọi khác:
    Thiên, Trạch, Hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, Địa.

    Nhìn vào đồ hình Tiên Thiên, em sẽ thấy:
    Ứng với 1 tên gọi là 1 ký hiệu dưới dạng đồ hình nhỏ.
    Đồ hình nhỏ ấy có dạng 3 nấc, Mỗi nấc là 1 vạch liền_ hay 1 vạch đứt _ _
    Đồ hình nhỏ ấy có tên gọi là Quái.

    Em hãy học thuộc 16 tên gọi, 8 ký hiệu số, & 8 Quái ấy.

    Khi đã thuộc tàm tạm, em hãy sắm 6 đồng tiền trị giá 5000VNĐ.
    Theo qui ước:
    Mặt hình làm âm. Mặt số làm dương.
    Âm là vạch đứt _ _ Dương là vạch liền __

    Và thực hiện như sau:

    Nắm 6 đồng tiền trong lòng bàn tay thuận,
    rồi nhắm mắt tập trung đếm chậm rãi đến 100 hoặc hơn.
    (Cách định tâm, định thần trước khi gieo).

    Đặt câu hỏi ngắn gọn,
    Ví dụ: Ta học môn dự đoán này nổi không ?

    Lắc 6 đồng tiền như lắc xúc xắc, bao nhiêu lần tùy ý.
    Sau đó, xếp 6 đồng tiền theo thứ tự từ dưới lên trên.
    Và viết ra giấy, theo thứ tự từ dưới lên.
    Ví dụ:
    lúc 16h ta gieo được:
    hình, số, hình, số, hình, hình.
    ta ghi:
    đứt, liền, đứt, liền, đứt, đứt.

    3 vạch trên là: Lôi.
    3 vạch dưới là: Thủy.

    ta gọi tên theo qui ước từ trên xuống: Lôi Thủy ?.
    Dấu chấm hỏi ấy là gì ?
    Em hãy lật đến cuối quyển sách, sẽ thấy PHỤ LỤC ĐỒ BIỂU 64 QUẺ.
    Dò theo đồ biểu, em sẽ thấy Lôi Thủy Giải. Vậy dấu chấm hỏi ấy là chữ Giải.

    3 vạch trên là thượng quái Lôi, 3 vạch dưới là hạ quái Thủy.
    Em chỉ cần nhìn vào và đọc: quẻ Chủ LÔI THỦY GIẢI.
    Có quẻ Chủ rồi, ta tìm quẻ Biến.

    Tìm như sau:
    Lôi = 4 ; Thủy = 6.
    4 + 6 = 10.
    10 + 9 (gieo lúc 16h, là giờ Thân. Thân= 9.) = 19 : 6 dư 1.
    Dư 1 tức là: hào số 1 động (biến đổi)

    Vạch thứ nhất, theo qui ước, đếm từ dưới lên của Lôi thủy Giải là vạch đứt.
    ta biến đổi nó sang vạch liền,
    (qui ước: nếu vạch liền, ta đổi nó sang vạch đứt và ngược lại)
    ta có:
    Lôi Trạch Qui Muội.

    Tóm lại, ta có:
    Lôi Thủy Giải 1 (quẻ Chủ) >>> Lôi Trạch Qui Muội 1 (quẻ Biến)

    Em Tuyet Minh,

    Trước hết, em chỉ cần học thuộc 16 tên gọi, 8 ký hiệu số, & 8 Quái.
    Còn tên gọi 64 quẻ, không cần phải thuộc ngay.
    Em hãy lập cho em 1 cái bảng ghi theo thứ tự ABC,
    từ Địa cho tới Trạch
    để tra mỗi khi lập quẻ.
    Siêng năng lập quẻ, chậm thì 2 tháng cũng thuộc làu làu rồi.

    Gặp 8 quẻ đặc biệt:
    .
    Thiên Thiên: đọc là Thuần Càn.
    Trạch Trạch: Thuần Đoài.
    Hỏa Hỏa: Thuần Ly.
    Lôi Lôi: Thuần Chấn.
    Phong Phong : Thuần Tốn.
    Thủy Thủy: Thuần Khảm.
    Sơn Sơn: Thuần Cấn.
    Địa Địa: Thuần Khôn.

    Em hãy tập luyện lập quẻ.
    Khi nào thành thạo, hãy quay lại đây,
    tôi sẽ hướng dẫn cách luận giải.

    Qui ước:
    23h-1h: giờ Tí,
    1h-3h: giờ Sửu,
    3h-5h: giờ Dần,
    5h-7h: giờ Mão,
    7h-9h: giờ Thìn,
    9h-11h: giờ Tỵ,
    11h-13h: giờ Ngọ,
    13h-15h: giờ Mùi,
    15h-17h: giờ Thân,
    17h-19h: giờ Dậu,
    19h-21h: giờ Tuất,
    21h-23h: giờ Hợi.
    Và:
    Tí= 1,
    Sửu= 2,
    Dần= 3,
    Mão= 4,
    Thìn= 5,
    Tỵ= 6,
    Ngọ= 7,
    Mùi= 8,
    Thân= 9,
    Dậu= 10,
    Tuất= 11,
    Hợi= 12
  5. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 313.

    HỎI:

    chào thầy:
    dạo này thầy bận sao?
    luận đoán theo âm dương nghĩa là thế nào hả thầy?
    thưa thầy như thầy nói là gieo quẻ bằng tiền xu hay bằng lá bài cũng vậy chỉ cho biết cảm giác nơi người gieo, sau đó xem hào tư là để xác định kết quả cảm nhận này là được hay không được, em nghĩ vậy? liệu có đúng không? vậy gieo bằng lá bài áp dụng cho việc đầu tư ngắn hạn có chính xác 80% không?vậy có nên tiếp tục gieo quẻ bằng lá bài cho những lần đầu tư lần sau không?
    tạ ngọc thắng
    Đáp::

    Gởi em Ngọc Thắng,

    Em gieo đồng tiền lập quẻ để luận đoán, thì
    có ba tình huống:

    1. Gieo quẻ coi cho ngôi thứ nhất (tôi, chúng tôi, sự việc của tôi, sự việc của chúng tôi): Dùng quẻ Không Xác Định luận đoán tình huống Xác Định. Đúng nguyên tắc Âm Dương.

    2. Gieo quẻ coi cho ngôi thứ hai (anh, chị, sự việc của anh, sự việc của chị): Dùng quẻ Không Xác Định luận đoán tình huống Xác Định. Đúng nguyên tắc Âm Dương.

    3. Gieo quẻ coi cho ngôi thứ ba (anh ấy, chị ấy, họ, sự việc của họ…): Dùng quẻ Không Xác Định luận đoán tình huống Không Xác Định. Tình huống Âm – Âm. Vi phạm nguyên tắc Âm Dương. Vì thế, việc luận đoán sẽ dẫn đến kết quả sai.

    Trong tình huống ra quyết định đầu tư, khi lâm vào tình huống thứ ba, có hai phương án chuyển nó về tình huống thứ nhất hoặc thứ hai bằng:

    Phương án thứ nhất: là phương án em hỏi tôi ở câu trước.
    Phương án này phải sử dụng Phương Pháp Luận Đoán Âm Dương.

    Phương án thứ hai: gồm hai bước.

    1. Bước 1: Sử dụng kiến thức, khả năng chuyên môn xử lý thông tin, dữ liệu để ra quyết định đầu tư.
    2. Bước 2: Lập quẻ bằng quẻ gieo đồng tiền để thẩm tra quyết định đầu tư ấy là Đúng hay Sai.

    Em lưu ý: Trong mọi tình huống, tính ngẫu nhiên bị vi phạm, lập tức bỏ qua việc luận đoán.
    Ví dụ: Lập quẻ theo lịch trình, chọn thời điểm lập quẻ, biết trước quẻ...

    Năng lực dự đoán của em hiện tại, theo tôi lượng định, chỉ mới ở điểm 3/10.
    Nên em hãy khoan nghĩ đến việc sử dụng năng lực luận đoán vào công việc.

    Như bao môn học khác, muốn giỏi, em phải làm bài tập thật nhiều.

    Phương pháp luận đoán tôi hướng dẫn cho em,
    từ đầu đến nay, từ từ
    đã được rút lại khá gọn.
    Tuy nhiên, nó vẫn chưa phải là bước rút gọn cuối cùng.

    Bước rút gọn cuối cùng, theo thông lệ,
    tôi để học viên tự suy ngẩm.
    Em cũng không nằm ngoài cái thông lệ này.

    Phương pháp Luận Đoán Âm Dương,
    tôi sẽ có một bài riêng về phương pháp này.
  6. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 194.

    HỎI:

    Chào thầy:
    À hôm nọ em về gieo quẻ với lá bài em có thắc mắc thế này: mình cháo bài đi tập trung vào sau đó đặt câu hỏi ngắn gọn, rút 6 cây bất kỳ lần lượt đặt từ dưới lên ( lá bài úp ) đủ 6 cây ta được quẻ chủ, tính theo úp thì 3 trên là ngoại quái, 3 dưới là nội quái? thưa thầy em làm thế có đúng không? hay là mình rút 6 cây lá bài bất kỳ đặt từ dưới lên ( lá bài ngửa ) đủ 6 cây ta được 3 trên là ngoại quái, và 3 dưới là nội quái?
    nhận xét so với cách gieo quẻ bằng đồng tiền:
    6 đồng tiền chỉ có 12 mặt
    52 lá bài 26 đen và trắng
    vậy xác xuất của quẻ thuần càn và khôn khi dùng lá bài là nhiều hơn khi dùng đồng tiền!
    - ta có thể dùng 6 lá bài đen và 6 lá bài trắng được không? tại sao cứ phải 52 lá bài mà không phải con số ít hơn?
    nhưng em cảm nhận gieo bằng lá bài cảm giác đúng hơn đồng xu
    tạ ngọc thắng
    Đáp::

    Gởi em Ngọc Thắng,

    Lại một “Đại đệ tử” của toán xác suất.
    Em đọc bài đáp của tôi với bạn Ngô Khang sẽ rõ.


    Về chuyện bộ bài.
    Tại vì… bộ bài tây có 52 lá,
    nên tôi xài đúng 52 lá.

    Em muốn dùng 6 lá trắng, 6 lá đen thì em cứ thử.

    Tôi còn có ý định mua thêm 1 bộ
    để chỉ lấy ra … 12 lá,
    bổ sung cho bộ kia cho đủ 64 lá.

    Bởi qui chiếu của tôi là màu đỏ & màu đen, hào âm & hào dương,
    chứ không phải là Bồi, đầm, già, xì… để đánh bài.

    Thêm vào 12 lá, xào bài thấy vướng tay quá
    tôi quay lại 52 lá.

    12 lá theo cách của em thiếu tính “hấp dẫn”
    của động tác xào bài.
    Tôi là tôi không thích…

    Tôi đã từng hỏng “hóc” từ kỹ thuật gieo quẻ bằng lá bài.
    Đừng có mà cảm nhận như thế.

    Chu Tử Nam

    Động tác xào bài đã tuân đúng luật ngẫu nhiên của
    kỹ thuật cơ bản
    lập quẻ theo đồng tiền.

    Tôi xào bài rồi
    cứ 6 lá phía trên mà lật ngay ra,
    xếp từ dưới lên.
    Em sáng tạo ra cách nào hay hay khác, chẳng ai cấm …
  7. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 143.

    HỎI:

    chào thầy, em lại nghĩ ra cái thắc mắc này không biết giở hay không? ví dụ khi gieo quẻ theo ngày tháng
    năm 2008 tháng 6 ngày 22 giờ thìn chẳng hạn như vậy nhưng khi gieo quẻ theo thời gian thì
    1+6+22+giờ thìn
    thế nhưng có điều sẽ có năm mậu tý tháng 6 ngày 22 giờ thìn nhưng không phải của năm 2008 mà của năm trước đó chẳng hạn liệu như vậy có ổn lắm không, còn theo em thì gieo quẻ bằng tiền xu là chính xác nhất còn gieo quẻ theo thời gian không chính xác có đúng như vậy không thầy, thầy giải thích sự trùng lặp này cho em hiểu
    Đáp::

    Gởi em Ngọc Thắng,

    Em có nhận xét hợp lý về các con số.

    Khi tôi dùng các hàm của Exel để lập quẻ, thì
    kết quả cho đúng có 24 bảng.
    Mỗi bảng ứng với 1 ngày.
    Vị chi là 24 ngày.

    Tức là:
    Khi tra bảng 24 ngày ấy,
    ta có thể biết được ngay quẻ (Chủ, Biến) của bất kỳ giờ nào,
    trong bất kỳ ngày nào, tháng nào, hay năm nào.

    Như vậy:
    Số lượng quẻ (Chủ, Biến) lập theo thời gian, chỉ có:
    24 x 12 (giờ) = 288 quẻ (Chủ, Biến).

    Đấy là những con số được tính toán theo phương pháp thống kê.
    Tới đây là hết phần nhận xét chí lý của em về các con số.

    Với nhận xét do có trùng lặp, cho nên….
    nó không chính xác so với gieo quẻ bằng đồng tiền
    thì đúng là em nói lung tung rồi.

    Câu trả lời 120 cho em Phong Linh, tôi đã nhắc nhở:
    Để tránh được việc nói năng, hỏi han lung tung
    thì cần hiểu rõ bản chất của Chu Dịch.
    Tôi cho rằng:
    Chu Dịch trình bày 64 định luật.

    Issac Newton đã biểu diễn toàn bộ nền vật lý cổ điển chỉ bằng có 3 định luật.

    Em hãy nhớ cho kỹ.
    Em đang lấy những định luật để lý giải cho các tình huống,


    CÂU 178.

    HỎI:

    chào thầy
    em có tìm hiểu chu dịch qua sách của ông Thiệu Vĩ Hoa và có 1 số thắc mắc mong thầy giải đáp:
    1- Trong phần lập quẻ có gia số ông Thiệu nói cách lập:
    quẻ thượng = (số năm + số tháng + số ngày):8
    quẻ hạ = (số năm + số tháng + số ngày +số giờ + gia số):8
    Trong phần dự báo thời tiết thì cách lập quẻ lại là:
    quẻ thượng = (số năm + số tháng + số ngày + gia số):8
    quẻ hạ = (số năm + số tháng + số ngày +số giờ + gia số):8
    Vậy theo thầy trong 2 cách lập quẻ trên thì cách nào đúng?
    2- Em muốn xem cho nhiều người cùng 1 cung giờ thì em phải cộng thêm số nét của tên hay họ của người đó (em là người Việt Nam).Và số nét tên họ của người đó thì đếm theo số nét tiếng Hán phồn thể hay theo tiếng Việt ạ?
    Em cảm ơn thầy.
    Đáp::

    Gởi em Ngo Khang,

    Kỹ thuật lập quẻ có gia số
    đã làm phiền tôi không ít thời gian.
    Hầu hết các học viên của tôi
    cũng không thích kỹ thuật này.
    Lý do: Kết quả dự đoán sai nhiều.

    Để xem cho nhiều người trong cùng một cung giờ,
    thường tôi sử dụng 1 trong 3 cách:

    Cách 1: Gieo 6 đồng tiền.
    Cách 2: Gieo bằng lá bài.
    Cách 3: Kêu họ viết câu hỏi vào tờ giấy. Tôi sẽ tính số lượng từ.

    Cách 3, có hai kỹ thuật lập quẻ:

    Kỹ thuật cổ điển:
    Quẻ thượng = tổng ký tự : 8, lấy số dư.
    Quẻ hạ = (tổng ký tự + số giờ) : 8, lấy số dư.
    Hào động = (tổng ký tự + số giờ) : 6, lấy số dư.

    Kỹ thuật theo Hệ Thống Dự Báo Theo Tính Danh.
    Ta gọi:
    Tổng lượng ký tự: T.
    Tổng lượng ký tự đầu: F
    Tổng lượng ký tự sau: E
    Ta có công thức:
    F = T : 2.
    E = (T : 2) (nếu T là số chẵn).
    E = (T : 2) + 1 (nếu T là số lẻ).
    Số quái thượng = F: 8, lấy số dư.
    Số quái hạ = E: 8, lấy số dư.
    Hào động = (Số quái thượng + số quái hạ + số giờ) : 6, lấy số dư.

    Ví dụ: vào lúc 9h31 tối. Tôi tự hỏi:
    Câu trả lời này có làm bạn đọc Ngô Khang thỏa mãn không ?
    Ta có:
    T = 14.
    F = 7.
    E = 7.
    Số quái thượng = 7: 8, số dư là 7.
    Số quái hạ = 7: 8, số dư là 7.
    Hào động = (7 + 7 + 12) : 6, số dư là 2.
    Ta có:
    Thuần Cấn 2 >>> Sơn Phong Cổ 2.

    Em lưu ý:
    Các dấu ? ! “” ( ) … được tính là 1 từ.

    Tôi thích kỹ thuật sau hơn,
    do nó thường cho tôi biết cách giải quyết vấn đề.
    Ở kỹ thuật cổ điển,
    thường chỉ cho biết tâm trạng nơi người hỏi.
  8. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 534.

    HỎI:

    xin hỏi! anh nam
    tại sao lại gán cho càn là 1 đoài là 2...khôn là 8? dựa vào đâu?
    tại sao lại lấy giờ ngày tháng năm để lập quẻ, dựa vào đâu?
    có thể dùng ngày dương lịch lập quẻ được không? tại làm sao?

    Đáp::

    Gởi bạn Minh Đức,

    Qui ước gọi số cùng với cách lập quẻ theo thời gian như thế
    tương truyền do nhà dự đoán tài ba đời nhà Tống, Thiệu Ung, hiệu là Thiệu Khang Tiết lập nên*.

    Tiếc rằng, như bao nhà học thuật Trung Hoa thời xưa,
    họ gần như không để lại một chút lý giải vì sao đã có những qui ước và cách lập quẻ như thế.

    Sau này, có nhiều nhà Dịch Học đã cố gắng giải thích.
    Ở đây, tôi chỉ tóm lược lại những điều có người giải thích rồi.

    Đồ hình Tiên Thiên & Hậu Thiên đã có từ thời nhà Chu (ít nhất là như thế).
    Trước Thiệu Ung, bói quẻ Dịch thường là căn cứ vào sự xuất hiện của:
    mai rùa khi đốt cháy, cỏ thi (pp này đã thất truyền),
    sự cảm nhận qua hiện tượng, hình dạng, dáng vẻ, màu sắc….mà lập quẻ.
    Cách lập quẻ này thường chỉ cho 1 quẻ duy nhất để luận giải.

    Thiệu Ung đã có công tạo lập một hệ thống lập và giải quẻ theo thời gian (ta tạm gọi là hệ thống).

    Căn cứ vào tiên đề rằng:
    Càn & Khôn hai Quái khởi thủy

    nên ông qui ước:

    Bên phải (dương) đồ hình Tiên Thiên dành cho 4 số đầu (dương): 1,2,3,4.
    Bên trái (âm) đồ hình Tiên Thiên dành cho 4 số sau (âm): 5,6,7,8.

    Bên phải là dương, nên khởi đi từ Quái đầu đến Quái cuối.
    nên ta có:
    Càn là 1 – Đoài là 2 – Ly là 3 – Lôi là 4.

    Bên trái là âm, nên phải khởi đi từ Quái cuối đến Quái đầu.
    nên ta có:
    Tốn là 5 – Khảm là 6 – Cấn là 7 – Khôn là 8.

    Đó là bên quẻ Dịch.
    Bên lịch Âm, ông cũng đạt ra các qui ước:

    Địa Chi tuần tự 1-12 là từ Tí đến Hợi.
    Thiên Can tuần tự 1-10 từ Giáp đến Quí.

    Việc ông lập ra công thức:

    Tổng(số ngày + số tháng + sô Chi năm) : 8, số dư là Thượng quái.
    Tổng(số ngày + số tháng + sô Chi năm + số Chi giờ) : 8, số dư là Hạ quái.
    Tổng(số ngày + số tháng + sô Chi năm + số Chi giờ) : 6, số dư là Hào động.

    Nhận xét:

    - Việc lấy số dư để làm kết quả là hợp lý về tính logic toán học.
    Có 8 quái, thì phải chia cho, và số dư chính là số Quái.
    Có 6 hào, thì phải chia cho 6, và số dư chính là vị trí của Hào.
    - Việc lấy số dư đầu tiên xác lập là Thượng quái, số dư sau là Hạ quái là hợp lý theo luận thuyết Âm Dương.
    Thuyết Âm Dương xác định tính Tuần tự của sự vận động vật chất.
    - Việc lập Tổng như trên thì thật khó lý giải được ông Thiệu Ung lấy từ cơ sở nào.
    Những người thời nay chỉ căn cứ vào tính đặc thù của nền văn minh Trung Hoa là:
    “Tính kinh nghiệm – Thử & Sai”.
    nên phỏng đoán rằng:
    Thiệu Ung đã phải thử nghiệm rất nhiều lần, để có thể có được công thức như thế.

    Lời bàn:

    1- Thiệu Ung đề ra những qui ước có căn cứ vào tiên đề & tuân thủ lối lập luận Âm Dương, nên các qui ước ấy là đúng đắn.

    2- Thiệu Ung qui ước những con số của Can – Chi cũng căn cứ trên lý thuyết Âm Dương, cho nên, các qui ước ấy là chấp nhận được.

    3- Nếu ta đứng trên lối nhìn nhận của khoa học hiện đại:
    ”Chữ viết là ký hiệu, nên văn bản là tập hợp mọi ký hiệu mà con người thể hiện suy nghĩ của mình lên nó.”
    thì việc xác lập các qui ước (ký hiệu) và lập công thức để đi tìm nội dung của những ký hiệu ấy, của Thiệu Ung,
    là điều mà chúng ta có thể hiểu và chấp nhận được.

    4- Tôi không giỏi về môn toán, nên không thể chứng minh được tính đúng đắn các công thức của Thiệu Ung. Hy vọng sẽ có người làm được công việc này.

    5- Khi đứng ở góc độ được trình bày ở (3), chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng dương lịch để lập quẻ. Vấn đề là: Liệu công thức của Thiệu Ung có thích ứng với việc lấy dữ liệu (số qui ước) từ dương lịch ? Trong lúc câu hỏi ấy chưa được giải đáp, thì việc áp dụng thử để xem thế nào là quyền của ta, chắng ai cấm…. Bạn thử xem.
  9. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    LẬP QUẺ BẢN MỆNH NGÀY SINH.


    CÂU 123.

    HỎI:

    Chào thầy
    Em đã nhận được câu trả lời của thầy ở câu 102 rồi nhưng em vẫn còn thắc mắc thế này:
    1.Theo như thầy giải thích thì ta nên tính theo cách đã biết hay theo cách của ông Thiệu Vĩ Hoa thưa thây. Mỗi cách có ưu nhược điểm thế nào hả thầy?( Cách đã biết: ngày + tháng + số Chi năm).
    Cái ông Vĩ Hoa giới thiệu: Ngày + tháng + số Can năm (cộng số Chi giờ)
    Cái ông ấy giấu: Ngày + tháng + số Can năm (cộng số Can giờ).
    ---->>>Thầy có thể lấy một ví dụ cho em theo cách này cho em rõ hơn ko?
    2. Hiện tại em mới biết về Chi của giờ nhưng chưa biết gọi tên đầy đủ cả Can Chi của giờ mong thầy chỉ dùm em.
    Cảm ơn thầy!
    Đáp::

    Gởi em Phạm Văn Hùng,

    Cách: Ngày + tháng + số Chi năm (cộng số Chi giờ) là của ông Thiệu Khang Tiết, Triết gia đời nhà Tống.
    Hai cách kia chỉ là biến thể.
    Và không ai biết chắc biến thể ấy do ông Thiệu Vĩ Hoa nghĩ ra.

    Và điều này quan trọng hơn:
    Nghĩ ra cái biến thể trong dự đoán học không phải là điều gì to tát cả.

    Ưu nhược của cả 3 cách chưa thấy ai thống kê.
    Trong thực tiễn, hầu hết mọi người sử dụng cách chính thống.
    Tuy nhiên, điều ấy không hẳn là có quyền phủ nhận tính đúng của hai biến thể kia.
    Khi nào giỏi rồi, siêng một chút em thử thực nghiệm và thống kê hai biến thể này xem sao.

    Cách tính Can của giờ, em thực hiện theo bảng sau:

    (Ngày): (Giờ).
    Giáp Kỷ: Giáp Tí.
    Ất Canh: Bính Tí.
    Bính Tân: Mậu Tí.
    Đinh Nhâm: Canh Tí.
    Mậu Quí: Nhâm Tí.

    Biết Can giờ Tí, ta tính được Can 11 giờ còn lại.

    Ví dụ minh họa cho biến thể Can – Can:
    Ngày 23 tháng 4 âm lịch, năm Mậu Tí, giờ Tuất, ngày Đinh Mão.

    Ngày Đinh Mão, ta có:
    giờ Canh Tí.
    Vậy giờ Tuất là:
    Canh Tuất.

    Lập quẻ:
    23+4+5 (năm Mậu) = 32 :8 dư 0.
    32 + 11 (giờ Canh) = 43 :8 dư 3.
    43 : 6 dư 1.
    Ta có:
    Địa Hỏa Minh Di 1 >>> Địa Sơn Khiêm 1.


    CÂU 54.

    HỎI:

    Thưa thầy:Cùng ngày tháng năm sinh ở chu dịch có quẻ tiểu súc.ở mai hoa dịch số có quẻ lữ nhưng ở bát tự hà lạc lại là quẻ cấu.theo thầy em nên tin quẻ nào?
    Đáp::

    Gởi em NTTNhung,

    Khoan bàn về kỹ thuật lập quẻ. Hiện có 2 quan điểm khi lập quẻ xem bản mệnh:.
    Lấy ngày sinh để lập quẻ bản mệnh.
    Lập quẻ bản mệnh bằng việc lấy ngay thời điểm, khi người ấy hỏi về số phận.

    Ở quan điểm thứ nhất, có hai kỹ thuật lập quẻ:
    Lập quẻ chính thống:
    Ngày + tháng + năm (số địa chi) = A : 8 dư x.
    A + giờ (số địa chi) = B : 8 dư y.
    B : 6 dư z.
    x: thượng quái ; y: hạ quái ; z: hào động.
    Lập quẻ theo Thiệu Vĩ Hoa: Thay vì năm (số địa chi) thì là năm (số thiên can).

    Ở quan điểm thứ hai, có 3 kỹ thuật lập quẻ:
    Kỹ thuật thứ nhất: Tương tự kỹ thuật Lập quẻ chính thống.
    Kỹ thuật thứ hai: Gieo đồng tiền (hoặc các kỹ thuật tương đương).
    Kỹ thuật thứ ba: Lập quẻ theo nguyên lý Tam Tài, Thiên Nhân tương ứng. Lây ngay khung cảnh lúc ấy mà lập quẻ.

    Sự sai biệt là nằm ở lý do trên.
    Ta loại trừ các kỹ thuật tạp nham không đáng tin.
  10. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 701.

    HỎI:

    thua thay,em dang tim hieu ve kinh dich,va muon duoc biet so phan cua minh se nhu the nao trong cuoc song va tuong lai? Xin Thay giup chi cho em. Cam on Thay nhieu.
    Đáp::

    Gởi em Phan Diem,

    Kỹ thuật lập quẻ xem Bản Mệnh không khó.
    Luận giải quẻ cũng rất dễ,
    với điều kiện…
    Chỉ coi bản mệnh của em.

    Tính theo âm lịch:
    ngày + tháng + năm (địa chi) = A
    A : 8 lấy số dư = B
    A + giờ sinh (địa chI) = C
    C : 8 lấy số dư = D
    C : 6 lấy số dư = E.
    (B,D) = Quẻ Chủ
    (B,D,E) = Quẻ Biến

    Ví dụ:
    Sinh ngày 27-6 năm 1973 (Quý Sửu), 8h sáng.
    27 + 6 + 2 (năm Sửu) = 35
    35 : 8 dư 3
    35 + 5 (giờ Thìn) = 40
    40 : 8 dư 0
    40 : 6 dư 4
    ta có:
    (3,0) = Hỏa Địa Tấn.
    (3,0,4) = Sơn Địa Bóc.
    Vậy ta có:
    Hỏa Địa Tấn >> Sơn Địa Bóc 4.
  11. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 701.

    HỎI:

    thua thay,em dang tim hieu ve kinh dich,va muon duoc biet so phan cua minh se nhu the nao trong cuoc song va tuong lai? Xin Thay giup chi cho em. Cam on Thay nhieu.
    Đáp::

    Gởi em Phan Diem,

    Kỹ thuật lập quẻ xem Bản Mệnh không khó.
    Luận giải quẻ cũng rất dễ,
    với điều kiện…
    Chỉ coi bản mệnh của em.

    Tính theo âm lịch:
    ngày + tháng + năm (địa chi) = A
    A : 8 lấy số dư = B
    A + giờ sinh (địa chI) = C
    C : 8 lấy số dư = D
    C : 6 lấy số dư = E.
    (B,D) = Quẻ Chủ
    (B,D,E) = Quẻ Biến

    Ví dụ:
    Sinh ngày 27-6 năm 1973 (Quý Sửu), 8h sáng.
    27 + 6 + 2 (năm Sửu) = 35
    35 : 8 dư 3
    35 + 5 (giờ Thìn) = 40
    40 : 8 dư 0
    40 : 6 dư 4
    ta có:
    (3,0) = Hỏa Địa Tấn.
    (3,0,4) = Sơn Địa Bóc.
    Vậy ta có:
    Hỏa Địa Tấn >> Sơn Địa Bóc 4.

  12. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 776.

    HỎI:

    kính gửi anh chu tử nam ! lâu nay tôi không có những thắc mắc về chu dịch để nhờ anh chỉ giúp , nhưng tôi vẫn thường xuyên theo dõi những bài viết của anh . gần đây tôi có đọc mấy bài viết về sử dụng ngày sinh để xem tính cách , tôi nghĩ có lẽ những bài viết này là của anh .tôi đã đọc nhưng không hiểu về cách lập quẻ . tôi gửi anh một đoạn trích của bài viết đó để anh xem nhé :

    SỬ DỤNG NGÀY SINH XEM TÍNH CÁCH BẨM SINH

    CHƯƠNG 3 :SỬ DỤNG NGÀY SINH XEM TÍNH CÁCH BẨM SINH

    Khi sinh ra, bạn đã có sẵn 1 số tính cách cơ bản của cha mẹ truyền lại (bẩm sinh). Dự đoán học Trung Hoa đã xác định những thông tin tính cách cơ bản ấy nằm trong ngày sinh.
    Các sách dạy dự đoán bằng Kinh Dịch hay Chu Dịch Dự Đoán Học trước nay đều cho rằng việc xác định số phận qua ngày sinh chỉ cần lập 3 quẻ. Có sách chỉ dẫn sử dụng Địa Chi, sách khác dùng Thiên Can.
    Quan điểm của tôi trong vấn đề này có khác. Tôi cho rằng công việc dự đoán (hay làm bất kỳ điều gi) tất cả đều phải căn cứ vào những thông tin ban đầu. Vì thế, ngày sinh của con người đã cung cấp cho chúng ta Thiên Can lẫn Địa Chi thì ta cứ dùng cả 2 để lập 6 quẻ. Bởi vì bản chất của chúng đều là những thông tin ban đầu, thì không có lý gì phải bỏ cái này lấy cái kia.

    CÁC VÍ DỤ MINH HOẠ :

    1. Trường hợp người có hơn 1 lần lập gia đình :
    VÍ DỤ : Một người đàn ông sinh lúc 2 giờ sáng, 7 – 7 Quý Mùi
    Tra bảng ta có:
    Thuở nhỏ: Địa Trạch Lâm, Thuỷ Điạ Tỉ
    Thanh niên: Địa Lôi Phục, Sơn Trạch Tổn
    Trung niên về già: Địa Lôi Phục, Phong Địa Quán

    Độ tuổi
    Tính Cách
    Dự Đoán Số Phận

    Thuở nhỏ
    Can đảm, mạnh dạn

    Gần gũi, thân mật
    Dễ dạy không ?
    Tính cách mạnh dạn lại thích giao du thì việc dạy dỗ tất phải khó khăn.
    Học tốt không ?
    Mạnh dạn làm quen gần gũii với bạn bè (cả bạn gái) Vì thế, việc học giỏi khó xảy ra.

    Thanh niên
    Chập chờn

    Nóng nảy, nóng vội
    Học cao không ?
    Thuở nhỏ học không giỏi. Lớn lên tính cách nóng nảy, bất định, thiếu dứt khoát thì không thể có bằng cấp cao.
    Có công việc tốt không ? Hạnh phúc lứa đôi ?
    Chập chờn, bất định, nóng nảy tất công việc thường không suông sẻ. Hạnh phúc lứa đôi sẽ dễ tan vỡ với tình cảm chập chờn như thế này.

    Trung niên về già
    Chập chờn

    Khoa trương, khoe khoang
    Thành đạt không ?
    Thuở nhỏ và Thành niên có kết quả bình thường. Tuổi già vẫn với tính cách chập chờn, bất định và thích khoe thì sự thành đạt chỉ bình thường.
    Hạnh phúc không ?
    Tình cảm vẫn chập chờn, không nhất định. Hạnh phúc tất không tròn vẹn.
    tôi mong anh xem và có thể hướng dẫn cho tôi cách lập quẻ .
    kính chúc anh khỏe và hạnh phúc
    Đáp::

    Kính gởi anh Nguyen Doan Vinh,

    Xưa nay, Dự Đoán Chu Dịch lấy ngày sinh để lập quẻ xem số phận.
    Lập quẻ được lấy theo công thức:

    (ngày + tháng + số Chi của năm) + (số Chi của giờ)

    Trong quyển sách Chu Dịch Dự Đoán Học của tác giả Thiệu Vĩ Hoa,
    ông Hoa có viết, với nội dung:
    Tôi nhận thấy rằng xem số phận con người, lập quẻ theo Thiên Can năm sinh sẽ cho kết quả chính xác hơn là lấy số Địa Chi năm.

    Ông Hoa viết như thế, nhưng không giải thích vì sao.

    Về bản chất, 1 con người ra đời cũng là một sự kiện.
    Nếu cho rằng ý trên của ông Hoa là đúng,
    vậy ông Hoa sẽ giải thích ra sao khi lập quẻ thời gian xem sự kiện,
    ông vẫn dùng số Địa Chi của năm ?

    Đoạn anh trích dẫn và gởi đến,
    tác giả bài viết đã đứng trên quan điểm:
    Thời điểm phát sinh sự kiện mang tính thông tin.

    Xuất phát từ quan điểm ấy, từ ngày sinh
    tác giả đã lập cả 2 bản quẻ:

    1 theo công thức: (ngày + tháng + số Can của năm) + (số Chi của giờ)
    1 theo công thức: (ngày + tháng + số Chi của năm) + (số Chi của giờ)

    Và trong đoạn luận giải,
    tác giả đã luận theo từng cặp (Can, Chi)

    Tôi đã viết khá nhiều trong khoảng 10 năm trở lại đây.
    Quả thật, tôi không dám chắc đoạn trích dẫn trên
    có phải do tôi viết như thế không.
    Nhưng qua lối viết bài, thì đúng là cách viết của tôi.
  13. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 776.

    HỎI:

    kính gửi anh chu tử nam ! lâu nay tôi không có những thắc mắc về chu dịch để nhờ anh chỉ giúp , nhưng tôi vẫn thường xuyên theo dõi những bài viết của anh . gần đây tôi có đọc mấy bài viết về sử dụng ngày sinh để xem tính cách , tôi nghĩ có lẽ những bài viết này là của anh .tôi đã đọc nhưng không hiểu về cách lập quẻ . tôi gửi anh một đoạn trích của bài viết đó để anh xem nhé :

    SỬ DỤNG NGÀY SINH XEM TÍNH CÁCH BẨM SINH

    CHƯƠNG 3 :SỬ DỤNG NGÀY SINH XEM TÍNH CÁCH BẨM SINH

    Khi sinh ra, bạn đã có sẵn 1 số tính cách cơ bản của cha mẹ truyền lại (bẩm sinh). Dự đoán học Trung Hoa đã xác định những thông tin tính cách cơ bản ấy nằm trong ngày sinh.
    Các sách dạy dự đoán bằng Kinh Dịch hay Chu Dịch Dự Đoán Học trước nay đều cho rằng việc xác định số phận qua ngày sinh chỉ cần lập 3 quẻ. Có sách chỉ dẫn sử dụng Địa Chi, sách khác dùng Thiên Can.
    Quan điểm của tôi trong vấn đề này có khác. Tôi cho rằng công việc dự đoán (hay làm bất kỳ điều gi) tất cả đều phải căn cứ vào những thông tin ban đầu. Vì thế, ngày sinh của con người đã cung cấp cho chúng ta Thiên Can lẫn Địa Chi thì ta cứ dùng cả 2 để lập 6 quẻ. Bởi vì bản chất của chúng đều là những thông tin ban đầu, thì không có lý gì phải bỏ cái này lấy cái kia.

    CÁC VÍ DỤ MINH HOẠ :

    1. Trường hợp người có hơn 1 lần lập gia đình :
    VÍ DỤ : Một người đàn ông sinh lúc 2 giờ sáng, 7 – 7 Quý Mùi
    Tra bảng ta có:
    Thuở nhỏ: Địa Trạch Lâm, Thuỷ Điạ Tỉ
    Thanh niên: Địa Lôi Phục, Sơn Trạch Tổn
    Trung niên về già: Địa Lôi Phục, Phong Địa Quán

    Độ tuổi
    Tính Cách
    Dự Đoán Số Phận

    Thuở nhỏ
    Can đảm, mạnh dạn

    Gần gũi, thân mật
    Dễ dạy không ?
    Tính cách mạnh dạn lại thích giao du thì việc dạy dỗ tất phải khó khăn.
    Học tốt không ?
    Mạnh dạn làm quen gần gũii với bạn bè (cả bạn gái) Vì thế, việc học giỏi khó xảy ra.

    Thanh niên
    Chập chờn

    Nóng nảy, nóng vội
    Học cao không ?
    Thuở nhỏ học không giỏi. Lớn lên tính cách nóng nảy, bất định, thiếu dứt khoát thì không thể có bằng cấp cao.
    Có công việc tốt không ? Hạnh phúc lứa đôi ?
    Chập chờn, bất định, nóng nảy tất công việc thường không suông sẻ. Hạnh phúc lứa đôi sẽ dễ tan vỡ với tình cảm chập chờn như thế này.

    Trung niên về già
    Chập chờn

    Khoa trương, khoe khoang
    Thành đạt không ?
    Thuở nhỏ và Thành niên có kết quả bình thường. Tuổi già vẫn với tính cách chập chờn, bất định và thích khoe thì sự thành đạt chỉ bình thường.
    Hạnh phúc không ?
    Tình cảm vẫn chập chờn, không nhất định. Hạnh phúc tất không tròn vẹn.
    tôi mong anh xem và có thể hướng dẫn cho tôi cách lập quẻ .
    kính chúc anh khỏe và hạnh phúc
    Đáp::

    Kính gởi anh Nguyen Doan Vinh,

    Xưa nay, Dự Đoán Chu Dịch lấy ngày sinh để lập quẻ xem số phận.
    Lập quẻ được lấy theo công thức:

    (ngày + tháng + số Chi của năm) + (số Chi của giờ)

    Trong quyển sách Chu Dịch Dự Đoán Học của tác giả Thiệu Vĩ Hoa,
    ông Hoa có viết, với nội dung:
    Tôi nhận thấy rằng xem số phận con người, lập quẻ theo Thiên Can năm sinh sẽ cho kết quả chính xác hơn là lấy số Địa Chi năm.

    Ông Hoa viết như thế, nhưng không giải thích vì sao.

    Về bản chất, 1 con người ra đời cũng là một sự kiện.
    Nếu cho rằng ý trên của ông Hoa là đúng,
    vậy ông Hoa sẽ giải thích ra sao khi lập quẻ thời gian xem sự kiện,
    ông vẫn dùng số Địa Chi của năm ?

    Đoạn anh trích dẫn và gởi đến,
    tác giả bài viết đã đứng trên quan điểm:
    Thời điểm phát sinh sự kiện mang tính thông tin.

    Xuất phát từ quan điểm ấy, từ ngày sinh
    tác giả đã lập cả 2 bản quẻ:

    1 theo công thức: (ngày + tháng + số Can của năm) + (số Chi của giờ)
    1 theo công thức: (ngày + tháng + số Chi của năm) + (số Chi của giờ)

    Và trong đoạn luận giải,
    tác giả đã luận theo từng cặp (Can, Chi)

    Tôi đã viết khá nhiều trong khoảng 10 năm trở lại đây.
    Quả thật, tôi không dám chắc đoạn trích dẫn trên
    có phải do tôi viết như thế không.
    Nhưng qua lối viết bài, thì đúng là cách viết của tôi.
  14. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 118.

    HỎI:

    Chào thầy Nam
    Cảm ơn câu trả lời của thầy, sau khi tìm hiều trên diễn đàn và đọc thêm trong sách Kinh Dịch - Đạo của người quân tử em đã có được một số kiến thức nhất định về Kinh dịch.Em có thắc mắc mong thầy giải đáp giúp cho em
    1. Em được biết là có cách gieo quẻ bằng đồng tiền và theo thời gian.Vậy khi người kia (ngôi thứ hai) hỏi em thì em nên dùng phương pháp nào thưa thầy?Theo thầy thì phương pháp nào chính xác hơn
    2. Nhân tiện nói về phương pháp gieo quẻ theo thời gian em hỏi thầy một thắc mắc sau:
    Ở quan điểm thứ nhất, có hai kỹ thuật lập quẻ:
    Lập quẻ chính thống:
    Ngày + tháng + năm (số địa chi) = A : 8 dư x. ---->>> Số 8 này có phải là 8 quẻ không thưa thầy?
    A + giờ (số địa chi) = B : 8 dư y.
    B : 6 dư z.
    x: thượng quái ; y: hạ quái ; z: hào động.
    Lập quẻ theo Thiệu Vĩ Hoa: Thay vì năm (số địa chi) thì là năm (số thiên can)
    - Ở vị dụ trên thầy lấy: năm (số địa chi)nhưng trong ví dụ dưới lại lấy cả: năm (số thiên can)và năm (số địa chi)
    Ví dụ: 8h sáng ngày 27-8 năm Nhâm Ngọ
    8h sáng: 5
    Nhâm: 9
    Ngọ: 7
    * 27 + 8 + 9 = 44
    44 : 8 dư 4 (Lôi)
    44 + 5 = 49
    49 : 8 dư 1 (Thiên)
    49 : 6 dư 1 (x = 1)
    ___ ___ ___ ___
    ___ ___ ___ ___
    _______ _______
    _______ _______
    _______ _______
    _______x ___ ___x
    Lôi Thiên đại Tráng Lôi Phong Hằng
    * 27 + 8 + 7 = 42
    42 : 8 dư 2 (Trạch)
    42 + 5 = 47
    47 : 8 dư 7 (Sơn)
    47 : 6 dư 5 (x = 5)
    ___ ___ ___ ___
    _______x ___ ___x
    _______ _______
    _______ _______
    ___ ___ ___ ___
    ___ ___ ___ ___
    Trạch Sơn Hàm Lôi Sơn Tiểu Quá
    Nhờ thầy giải đáp thắc mắc này giùm em
    Cảm ơn thầy !
    Đáp::

    Gởi em Phạm Văn Hùng,

    1- Em hỏi: Em được biết là có cách gieo quẻ bằng đồng tiền và theo thời gian.Vậy khi người kia (ngôi thứ hai) hỏi em thì em nên dùng phương pháp nào thưa thầy?Theo thầy thì phương pháp nào chính xác hơn

    Trả lời:

    Mới học thì dùng quẻ gieo đồng tiền. Khi giỏi rồi dùng quẻ gieo theo thời gian.
    Cả hai cho kết quả như nhau.
    Tuy nhiên, pp gieo theo thời gian tiện hơn.
    Nhất là khi muốn tìm hiểu người lạ hoắc nào đó, không lẻ:
    “Thưa Ông, vui lòng gieo quẻ…”

    2- Em hỏi: Cộng số Can năm hay cộng số Chi năm ?

    Trả lời:

    Em đọc chưa kỹ.
    Ông Thiệu Vĩ Hoa chỉ sử dụng cách cộng số Can khi coi Bản mệnh ngày sinh.
    Điều mâu thuẩn trong cách trình bày của ông Vĩ Hoa là:
    Nếu đã cho rằng cộng số Can năm cho kết quả dự đoán đúng, thì cớ sao
    Ông vẫn thích lập quẻ cộng số Chi khi dự đoán công việc ?

    Theo tôi,
    Ông Vĩ Hoa đã trình bày sai cái ý của ông ấy.
    Ý của ông Vĩ Hoa là thế này (vẫn theo tôi):
    Vẫn còn có nhiều cách lấy thông tin dự đoán
    bằng những cách lập quẻ theo thời gian khác nhau.

    Chẳng hạn:
    Cái đã biết: ngày + tháng + số Chi năm.
    Cái ông Vĩ Hoa giới thiệu: Ngày + tháng + số Can năm (cộng số Chi giờ)
    Cái ông ấy giấu: Ngày + tháng + số Can năm (cộng số Can giờ).

    Tôi cũng bị mắc cái tật xấu ấy.
    Xin chớ trách ông Thiệu Vĩ Hoa.
  15. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 736.

    Kính thưa Thầy Chu Tử Nam tôi cũng là người rất thích tìm hiểu môn Chu Dịch, và tôi cũng đọc qua cuốn sách của "Thiệu Vĩ Hoa" .Trong đó tôi thấy sách có viết rằng mỗi người có một phương hướng kết hôn, tôi cũng được biết Thầy cũng từng đọc qua sách đó. Vậy tôi xin được hỏi Thầy về vấn đề này có đúng không?Kính mong Thầy giải thích và chỉ rõ cho tôi được hiểu rõ hơn vì trong sách viết vắn tắt quá tôi đọc nhưng không hiểu rõ. Xin chân thành cảm ơn Thầy.

    Đáp::

    Gởi anh Văn Trường,

    Theo lẻ thường, mỗi người đều có cách nghĩ riêng về một nửa kia của mình.

    Các phương pháp dự đoán căn cứ vào nhu cầu thực tiễn ấy của cuộc sống
    mà tạo ra phương cách xác định một nửa kia.

    Cách thức xác định một nửa kia, theo quyển sách
    anh đề cập, có hướng dẫn.
    Nhưng, quá vắn tắt đúng như anh nói.

    Tôi sẽ giải thích như sau:

    Trong quyển sách khá dầy ấy, ông Thiệu Vĩ Hoa,
    chủ yếu giới thiệu 3 kỹ thuật lập quẻ thời gian:

    1- Lấy Địa Chi tính hạ quái & hào động.
    2- Lấy Thiên Can tính hạ quái & hào động.
    3- Lập quẻ Sáu Hào.

    Tuy là 3, nhưng tựu trung, chúng là biến thể từ
    1 kỹ thuật duy nhất:
    (Ngày + Tháng + Năm + Can Chi)

    Và:
    Khi có người tới hỏi, hay có sự kiện gây chú ý thì thầy Hoa lập quẻ.
    Ngoài đó ra, thầy Hoa “ngồi im”
    Trừ phi, biết ngày sinh tháng đẻ của ai đó, thì tự ngồi coi.

    Vậy, giả như có ai đó đên hỏi thầy Hoa:
    “Một nửa kia của tôi như thế nào ?”
    thì tất, thây Hoa sẽ lập ngay quẻ thời gian theo công thức cộng Địa Chi.

    Giả dụ được quẻ:
    Địa Thiên Thái >> Thủy Thiên Nhu 5

    Quẻ được lập ra này chính là quẻ mô tả một nửa kia của người hỏi.

    Và không chỉ xem nửa kia, mà tất thảy mọi dạng thức câu hỏi đặt ra, như:
    đi thi, thất lac, làm ăn, hôn sự….. cũng lập quẻ theo cách thức duy nhất ấy.

    Vì sao như thế ?

    Bởi, bên lý thuyết, lý thuyết Âm Dương có một cách hiểu như thế này:

    “Vũ trụ lớn & Vũ trụ nhỏ có mối tương quan
    động dạng về cơ chế vận hành, và không có giới hạn về không gian & thời gian”

    Hiểu nôm na: Nắm được cái cơ chế vận hành hiện tại.
  16. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    LẬP QUẺ BẢN MỆNH TÍNH DANH.


    CÂU 334.

    Hỏi:

    Gửi thầy Chu Tử Nam,
    em cám ơn thầy đã trả lời câu hỏi của em lần trước,
    trong thời gian qua em đã xem lại các câu trả lời của thầy để học hỏi thêm
    tiếp theo câu hỏi của bạn Nguyễn Hồng Việt em muốn hỏi thầy một vấn đề về lập quẻ theo tính danh
    có một bài Thầy dạy là lấy cái ít hơn trước (xin lỗi là em không nhớ nguyên văn), nên khi lập quẻ lấy phần đầu của tên làm quẻ thượng
    ví dụ Nguyễn Hồng Việt thì chữ Nguyễn sẽ dùng để tính quẻ thượng, nhưng "ít hơn" ở đây sẽ được hiểu là ít hơn về số từ, hay ít hơn về số chữ cái?
    ví dụ: Nguyễn Hồng Việt, thì chữ Nguyễn sử dụng để tính quẻ thượng
    còn tên em có 4 chữ Lê thị Ngọc Hiền thì lấy phần nào để tính quẻ thượng, Lê hay Lê Thị?
    Nếu tên khác ví dụ: Nguyễn tú Anh, thì mình chọn như thế nào?
    Mong thầy hướng dẫn thêm,
    em cám ơn thầy.
    Ngọc Hiền
    Đáp::

    Gởi em Lê Thị Ngọc Hiền,

    Kỹ thuật lập quẻ Tính Danh dựa trên nguyên lý Chủ-Vị:
    Lấy ít làm chủ.

    Với tên họ:
    Nguyễn Hồng Việt.

    Bước 1: chia theo số lượng từ, ta có:
    Nguyễn / Hồng Việt.
    1/2

    Bởi chia theo bước 1 chưa đáp ứng được yêu cầu,
    do Chu Dịch có 8 quái cơ bản, nên
    ta chuyển qua bước 2.

    Bước 2: Tính số lượng ký âm tiết, ta có:
    Nguyễn / Hồng Việt.
    1 / 2
    7 / 5 + 5
    7/10-8 (chỉ có 8 quái cơ bản)
    7/2.
    Sơn Trạch Tổn.

    Với tên họ:
    Lê Thị Ngọc Hiền
    Bước 1:
    Lê Thị Ngọc Hiền
    2/2
    Bước 2:
    6/5+5
    6/10-8
    6/2
    Thủy Trạch Tiết.

    Giảng:
    Lấy ít làm chủ, khi số từ là số lẻ.
    Khi số từ là số chẵn, ta lập theo nguyên tắc Âm Dương quân bình.

    Với nguyên lý Âm Dương quân bình:

    Ở bước 1, ta đặt vấn đề là số từ, nên ta chia đôi số từ,
    không căn cứ vào số ký âm tiết là hợp lý.

    Số ký âm tiết chỉ đặt ra ở bước 2, nên khi ấy,
    ta tính số ký âm tiết trên phân vùng đã làm ở bước 1.
  17. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 430.

    Hỏi:

    chào thầy:
    em hay theo dõi về giá vàng, cólúc sáng 1 giá mà chiều lại tăng lên hơn so với sáng, và các ngày khác nhau cũng vậy, theo vận khítính danh của vàng thì ta phải lập như thế nào và để biết đường biểu đồ lên xuống của giá vàng từng ngày một
    tạ ngọc thắng
    Đáp::

    Gởi em Ngọc Thắng,

    Tôi chưa tìm ra được kỹ thuật xác định biểu đồ Ngày & Giờ cho Hệ Thống Dự Đoán Vận Khí Tính Danh.

    Tuy nhiên, vẫn có những phương án khác để có thể đưa ra quyết định đúng cho việc mua bán vàng.

    Phương án 1: Lấy quẻ thời gian ngay sau khi đưa ra quyết định MUA (hoặc BÁN).
    Quẻ thời gian cho thấy tiến trình Tích Cực, ta thực hiện ngay lập tức động tác mua hoặc bán.

    Phương án 2: Gieo quẻ đồng tiền và xem xét như phương án 1.

    Phương án 3: Tôi sẽ nói rõ hơn về phương án này.

    Trong Hệ Thống Dự Đoán Vận Khí Tính Danh, có một kỹ thuật lập quẻ,
    mà bản thân nó là kỹ thuật chủ đạo cho toàn bộ Hệ Thống Dự Đoán Vận Khí Tính Danh.
    Đó là nói về lý thuyết.

    Về tính thực tiễn của kỹ thuật này, nó là một công cụ bổ sung hoàn hảo cho kỹ thuật lập quẻ theo thời gian.
    Ở mặt khác, nó đi đến đích nhanh hơn, và dễ Đọc Quẻ hơn hẳn so với kỹ thuật lập quẻ theo thời gian.

    Tôi quay lại Phương án 3.

    Phương án 3: Lấy ngay Tính Danh vật thể mà lập Vận Khí Tính Danh.

    Trong trường hợp giả định ngay khi nhận được thông tin sốt dẻo nhất về giá vàng, em quyết định MUA MƯỜI LƯỢNG VÀNG vào lúc 20h45’.

    Ta có:
    MUA MƯỜI LƯỢNG VÀNG: Địa Hỏa Minh Di.
    Lập quẻ:
    Địa Hỏa Minh Di 4 >> Lôi Hỏa Phong 4.
    Lời hào 4 quẻ Phong không cho phép ta đưa ra quyết định ấy.
    Đồng nghĩa rằng quyết định ấy là SAI.

    GIẢNG:

    - Ở Phương án 1, việc đọc quẻ tiến trình là cả một nghệ thuật.
    Ngay cả với những người đã thông thạo lâu năm, do nhiều nguyên nhân, đôi khi cũng mắc sai lầm.

    - Ở Phương án 2, tình trạng tương tự như ở phương án 1.
    Tuy nhiên, phương án này có ưu điểm hơn so với phương án 1 là
    cho phép ta đưa ra quyết định nhiều hơn một lần, trong một khung giờ.

    - Ở Phương án 3, đọc quẻ thật dễ dàng.
    Nhưng phải xác định đúng Tính Danh. Không thể mắc sai lầm trong khâu này.

    - Ở cả 3 phương án, người dự đoán luôn nhớ nằm lòng nguyên tắc NGẪU NHIÊN.
    Chỉ được lập quẻ khi có tình huống phát sinh.
    Trong trường hợp em Ngọc Thắng nêu ra, tình huống phát sinh là Thông Tin Sốt Dẻo Về Giá Vàng.

    - Kỹ thuật trong phương án 3, tôi gọi là:
    Kỹ Thuật Xác Định YES/NO Cho Một Đối Tượng Phát Sinh Ngẫu Nhiên.
    Đọc tắt : “YES/NO Ngẫu Nhiên”.

    Ứng Dụng của kỹ thuật nay rất rộng.
    Các bạn đương theo dõi trên trang này có thể tự tìm hiểu,
    và đưa ra các phương thức sáng tạo cho riêng mình.
  18. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 486.

    Hỏi:

    Gửi thầy Chu Tử Nam
    Thầy cho em hỏi: trong cách xem tính danh của quốc gia, ví dụ tên đầy đủ của nước ta là "Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" thì ta lấy tên đầy đủ hay chỉ lấy tên "Việt Nam" thôi ạ?
    Đáp::

    Gởi em Ngô Khang,

    Mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử chỉ có duy nhất 1 Quốc Hiệu.
    Như nay, quốc hiệu nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Vậy hai chữ Việt Nam chúng ta sử dụng hàng ngày thì được gọi là gì ?

    Về mặt chính thức, khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802
    quốc hiệu Việt Nam đã được sử dụng trong khoảng 3 năm đầu nhà Nguyễn.

    Như thế, đã có một thời gian hai chữ Việt Nam đã được xem là Quốc Hiệu.
    Vậy, hai chữ Việt Nam ta thường gọi ngày nay cũng được xem là Quốc Hiệu thứ hai chăng ?

    Không phải như vậy.

    Khi có người hỏi: “Anh là người nước nào ?”, thì tôi trả lời: “Tôi là người Việt Nam”.
    Tương tự như vậy,
    Tôi là người Mỹ. Tôi là người Nga. Tôi là người Trung Quốc.
    Không ai trả lời: Tôi là người Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, người Liên Bang Nga, hay người Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

    Như vậy, hai chữ Việt Nam, chúng ta cần hiểu đây là từ ngữ chỉ dân tộc tính.

    ************************************************

    Tôi sẽ dùng Chu Dịch Tướng Học để xem Hình-Tướng dân tộc Việt Nam.

    Việt Nam.
    Việt : 5 ký âm.
    Nam : 3 ký âm.

    Việt / Nam : 5/3 : Phong Hỏa Gia Nhân.

    Vậy ta có:

    Quẻ Gốc: Phong Hỏa Gia Nhân : Thích gắn bó, đoàn kết / vẻ ngoài khoan dung, tình cảm.
    Quẻ Tiên Thiên (mặt trái) : Lôi Thủy Giải : Thích đa sự / vẻ ngoài cởi mở.
    Quẻ Hậu Thiên (mặt phải) : Sơn thủy Mông : Thích học hỏi / vẻ ngoài suy tư, nghiêm túc.

    Ta cần hiểu:
    Mặt Trái: mang tính kềm hãm, phá hủy, triệt tiêu quẻ Gốc.
    Mặt phải: mang tính hỗ trợ quẻ Gốc.

    Ta xem xét tính cách đặc trưng dân tộc Việt Nam:

    - Quẻ Gốc: Gia Nhân:
    Gắn bó, đoàn kết, đề cao giá trị gia đình ; Sống khoan dung & lối cư xử tình cảm.
    Những giá trị này được giữ gìn, bảo tồn & phát huy tất sẽ gầy dựng nên một xã hội lành mạnh, tốt đẹp.

    - Mặt trái: thích đa sự:
    Suy nghĩ, bàn bạc, tính toán, nắm bắt nhiều, ôm đồm nhiều việc, tức là không đi chuyên sâu, không nắm bắt mũi nhọn, không khoanh vùng, không chắt lọc, không tinh lọc…. tất sẽ dẫn đến việc mài mòn tính cách dân tộc.

    - Mặt phải: thích học hỏi:
    Sự học phải được xem là một giá trị căn bản, giá trị nền tảng của quốc gia.
    Quẻ Mông (mặt phải) đã chỉ ra rằng: Người Việt Nam đã mang sẵn trong mình khả năng học tập.
    Việc thúc đẩy khả năng này sẽ là hỗ trợ rất tốt cho các giá trị Gốc.

    Lời Bàn:

    - Quẻ Lôi Thủy Giải (mặt trái) còn mang ý nghĩa: Lý giải, lý luận, lý sự, lý tính (ngược với cảm tính), lạnh cảm, lạnh lùng.
    Hay nói gọn: Lý giải dài dòng & vô cảm.
    Như vậy: thái độ vô cảm & lối diễn giải dài dòng
    sẽ mài mòn tính cách dân tộc, kềm hãm giá trị Gốc, triệt tiêu các giá trị đặc trưng của dân tộc Việt Nam.

    - Quẻ Sơn Thủy Mông (mặt phải) còn mang ý nghĩa: bao bọc, bao dung, ngăn ngừa điều xấu (từ xa) của người đi trước đối với lớp hậu sinh.
    Hay nói gọn: Chăm lo lớp hậu sinh.
    Như vậy: thái độ khuyến khích, chăm lo, ngăn ngừa điều xấu ngay từ xa của xã hội đối với lớp trẻ, sẽ tạo nên lớp người biết quí trọng giá trị Gốc.
  19. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 621.

    Hỏi:

    Em cảm ơn Thầy đã hồi âm cho em
    em cung đã đọc nhiều câu hỏi của các ban trước nhưng vi không có hệ thống nên em chưa rõ. CÒn về 64 Quẻ dịch em đang đọc cuốn Kinh dịch của tác giả Nguyễn Hiến Lê. Và em có tham gia lớp học trực tiếp của Thầy Nguyễn Văn Dũng và cô Bạch Kim Ngọc em cũng đã lắm được quy luật An thế ứng, An Lục Thân, An Lục thần, và Thuật số bát quái đồ. Em cũng đã luận được ở mức độ đơn giản của một quẻ. Nhưng em van chưa lắm rõ cách lập quẻ và xác định quẻ chủ và quẻ khách.
    Em đọc nhiều câu hỏi thấy có cách lập quẻ theo Họ ( Phạm Xuân Hải)và Tên và lập theo số điện thoại (0904113327). Em đọc mà không hiểu mong thầy phân tích cách lập quẻ giúp em. Em cảm ơn Thầy nhiều.
    Đáp::

    Gởi em Phạm Xuân Hải,

    Những điều em đang học từ hai vị ấy là Dự Đoán Theo Sáu Hào.
    Kỹ thuật lập quẻ này, với tôi, tôi không dùng.
    Lý do, tôi đã có giải thích ở một số bài.
    Nay tôi sẽ vắn tắt nhắc lại:

    * Nó chỉ khả dụng với người có trình độ lý luận Âm Dương Ngũ Hành
    it nhất là trung cấp Đông Y. Với người ngoại đạo, học tốn thời gian vô ích.
    * Phạm vi ứng dụng có giới hạn.
    Kỹ thuật này không có khả năng bứt phá, thoát khỏi ranh giới dự đoán số phận con người.

    Giới dự đoán theo Chu Dịch hiện nay, kế cả ở nước ngoài
    tập trung ở 3 trường phái:
    1- Gieo đồng tiền & các biến thể của nó.
    2- Lập quẻ theo Mai Hoa Dịch Số: thời gian, tượng quẻ.
    3- Dự Đoán Sáu Hào.

    3 trường phái này xuất hiện ở 3 thời điểm khác nhau trong suốt quá trình hình thành và phát triển của môn học Dự Đoán Chu Dịch. Không tính đến cách xem mai rùa, cỏ thi trước đó, thì:
    Đầu tiên là Gieo đồng tiền,
    Tiếp đến là Mai Hoa Dịch Số.
    Sau đó là Dự Đoán Sáu Hào.

    Em đang học Dự Đoán Sáu Hào, bước qua đọc bài lập quẻ theo Tính Danh thấy khó hiểu là điều tất nhiên.
    Bởi đây là kỹ thuật hoàn toàn mới.
    Kỹ thuật này ứng dụng nguyên lý Chủ - Vị trong lý thuyết Âm Dương,
    Nguyên lý này phát biểu: Thiểu Vi Chủ (lấy ít làm chủ)
    Các bước cụ thể như sau:

    * Tính số lượng từ hoặc số lượng ký tự
    * Áp dụng nguyên lý Thiểu Vi Chủ để chia số lượng ấy làm 2 phần.
    * Lấy con số ở mỗi phần lập thượng quái & hạ quái, ta có quẻ Chủ.
    * Tổng thượng, hạ & số giờ địa chi chia 6 lấy hào động.
    * Lập quẻ Biến.

    Ví dụ:
    Phạm Xuân Hải
    Phạm: 5 ký âm tiết.
    Xuân: 4 ký âm tiết.
    Hải: 4 ký âm tiết.
    Ta có:
    Phạm Xuân Hải ~ 5 4 4
    Dùng Thiểu Vi Chủ:
    5 / 4 +4 ~ 5/8 ~ Phong Địa Quán.
    Lập vào giờ Tỵ:
    5+8+6 = 19 : 6 dư 1.
    Phong Địa Quán 1 >> Phong Lôi Ích 1.

    Với kỹ thuật lập quẻ theo nguyên lý Chủ - Vị,
    tôi đã đưa vào môn học Dự Đoán Chu Dịch một trường phái mới,
    Trường phái Dự Đoán Tính Danh,
    Và đồng thời thiết lập một ngành học chuyên biệt: CHU DỊCH TƯỚNG HỌC.

    Em có thể tham khảo thêm ở
    link CHU DỊCH TƯỚNG HỌC.
    cùng các bài viết có đề cập đến Vận Khí Tính Danh.

    Nói về kỹ thuật Dự Đoán Tính Danh, tôi nói ngắn thế này:
    Khả năng ứng dụng vượt trội về tất cả các mặt, với không gian & thời gian,
    so với 3 trường phái trên.
    Nó thật là tuyệt diệu !
    Ngay khi lập nên, tôi đã không nghĩ nó lại hay đến như thế.

    Phương pháp 5 & 6 với hai kỳ thi mở từ đầu năm 2009 đến nay,
    chính là phần tinh túy của Dự Đoán Tính Danh.
    Từ nay đến cuối năm, sẽ còn 2 kỳ thi.
    Hy vọng em sẽ tham gia.
  20. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 272.

    Hỏi:

    thưa thầy:
    em có chuyện này khó quá, không biết giải quyết thế nào: thầy có nhớ lần em hỏi thầy về em yêu cô ấy liệu xem có lấy được làm vợ không? mà gieo được quẻ thuần ly >>> phong. kết luận là lấy được đó: nhưng thực sự là không biết thế nào em thắc mắc là vì thế này:
    ……. giờ 2 gia đình đang ngăn cản là bảo phải bỏ nhau đi. em tự gieo quẻ và đoán thì không chính xác, nên em nhờ thầy gieo quẻ xem thế nào? tuy nhiên thầy yên tâm là em chỉ xem và tham khảo thôi chứ hứa không ảnh hưởng gì với thầy. thầy giúp em nhé…...
    em muốn biết em lấy cô ấy được không và con cái sau này có ……. không?
    cảm ơn thầy:
    tạ ngọc thắng
    Đáp::

    Gởi em Ngọc Thắng,

    Với chuyện hôn nhân, luận giải quẻ gieo đồng tiền thường không đáng tin cậy so với lập quẻ theo thời gian.
    Do tác động chủ quan nơi người gieo.

    Luận giải quẻ gieo theo thời gian có tốt hơn,
    nhưng chúng thường cho hai kết quả ở hai cực: Hoặc tốt, hoặc xấu.
    Mà chuyện hôn nhân đâu có đòi hỏi phải mang tính hoàn hảo.
    Ấy là chưa tính đến việc luận yes/no không phải là điều dễ dàng.

    Trong Hệ Thống Dự Báo Theo Tính Danh,
    có một kỹ thuật lập quẻ giải quyết được các nhược điểm trên.
    Tôi sẽ dạy em kỹ thuật này.

    Ví dụ 1: (Đây là những vụ việc có thật)
    Nam: Phong Địa Quán, sinh giờ Tuất.
    Nữ: Trạch Sơn Hàm.
    Phong + Trạch= 5+2=7.
    Địa + Sơn= 8+7=15:8 dư 7.
    7+7+11= 25 ; 25:6 dư 1.
    ta có:
    Thuần Cấn 1 >>> Sơn Hỏa Bí 1.

    Ví dụ 2:
    Nam: Phong Địa Quán, sinh giờ Tuất.
    Nữ: Thuần Khảm.
    Phong + Thủy= 5+6=11 ; 11:8 dư 3.
    Địa + Thủy= 8+6=14 ; 14:8 dư 6.
    3+6+11= 20 ; 20:6 dư 2.
    ta có:
    Hỏa Thủy Vị Tế 2 >>> Hỏa Địa tấn 2.

    Ví dụ 3:
    Nam: Phong Địa Quán, sinh giờ Tuất.
    Nữ: Thủy Thiên Nhu.
    Phong + Thủy= 5+6=11 ; 11:8 dư 3.
    Địa + Thiên= 8+1=9 ; 9:8 dư 1.
    3+1+11= 15 ; 15:6 dư 3.
    ta có:
    Hỏa Thiên Đại Hữu 3 >>> Hỏa Trạch Khuê 3.

    Ví dụ 4:
    Nam: Phong Địa Quán, sinh giờ Tuất.
    Nữ: Hỏa Thiên Đại Hữu.
    Phong + Hỏa= 5+3=8.
    Địa + Thiên= 8+1=9 ; 9:8 dư 1.
    8+1+11= 20 ; 20:6 dư 2.
    ta có:
    Địa Thiên Thái 2 >>> Địa Hỏa Minh Di 2.

    Giảng:

    Em sử dụng nguyên tắc Chủ - Vị
    của Hệ Thống Dự Đoán Theo Tính Danh để lập quẻ.
    Các bước tiếp theo, với em, thì dễ dàng rồi.

    Với phương pháp luận giải, em theo 2 công thức sau:

    QUẺ CHỦ (Cảm nhận về đối tượng) >>> QUẺ BIẾN (Kết quả của cảm nhận).
    QUẺ CHỦ (Cảm nhận về đối tượng) >>> QUẺ BIẾN (Hành vi của ta với đối tượng) >>> QUẺ CHỦ (Kết quả của hành vi).

    Em hãy giải 4 bài trên,
    rồi gởi bài giải cho tôi xem.

    Em lưu ý:
    Phương pháp này cho ta thấy trước viễn cảnh: Nếu như thế…. thì sẽ thế nào ?
    Để người xem đưa ra quyết định.
    Hoàn toàn không phải dự đoán theo dạng yes/no: Hai người sẽ đến với nhau, hoặc sẽ chia tay nhau.
  21. Dự đoán Chu dịch Administrator

    Số bài viết:
    506
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    18
    CÂU 834.

    Hỏi:

    Thưa thầy, em xin trình bày một vấn đề như sau

    Em hiện có 1 bản “Mai Hoa Dịch Số” do ông Minh Châu Phan Duy Tuần – là một tú tài Hán học, dịch từ Hán sang Việt. Trong bản này, phần Chiết Tự có trình bày phép Chiếm chữ theo công thức tương tự như Tính Danh của ta, nhưng tuân theo nguyên tắc khác chứ không phải nguyên tắc chủ vị. Cụ thể nguyên văn: “phàm thấy số chữ cân nhau, tức chia cân một nửa làm quẻ trên, một nửa làm quẻ dưới. Bằng số chữ không cân, tức lấy số ít làm quẻ trên [lấy nghĩa kinh thanh của trời], lấy số nhiều làm quẻ dưới [lấy nghĩa trọng trọc của đất]”. Vậy nguyên tắc ở đây là trời nhẹ ở trên, đất nặng ở dưới. Xin thầy giải thích thêm về nguyên tắc này, nó có liên hệ hay tương quan gì với nguyên tắc Chủ-vị của ta hay không?
    Đáp::

    Gởi em Huỳnh Trọng Khánh,

    Cây đàn phím lõm bên Cải lương,
    bên Tây sẽ nói cây đàn ấy của ai ?
    Của dân Tây, hay của người Việt Nam sáng tạo ?

    Thi đàn dây quốc tế,
    Liệu người Trung Hoa có quyền chỉ
    những cây đàn dây của Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản...
    là của họ ?

    Nhưng nếu họ nói:
    Kiểu đàn này xuất phát từ nền văn hóa
    đất nước chúng tôi.... thì mọi người sẽ OK ngay.

    Khi xem quyển dịch, Mai Hoa Dịch Số, vào năm 1997
    tôi đã đọc rất kỹ phần kỹ thuật lập quẻ,
    trong đó
    đã rất chú ý đến kỹ thuật lập quẻ theo số lượng nét chữ & số chữ.

    Tôi đã không quan tâm nhiều đến kỹ thuật tính tổng số nét hay tổng số chữ.
    Kỹ thuật tôi quan tâm lúc ấy, là Phân đôi số nét, hay số chữ.

    Ở phần này, Mai Hoa Dịch Số,
    tùy theo số chữ mà đưa ra các kỹ thuật khác nhau.
    Tổng cộng có 3 kỹ thuật riêng biệt cho lối này.

    1- Tính theo số nét bộ Thủ & nét ngoài bộ thủ.
    2- Tính theo thanh âm lên xuống, theo qui ước:
    - Bình thanh thì kể 1.
    - Thượng thanh thì kể 2.
    - Khứ thanh thì kể 3.
    - Nhập thanh thì kể 4.
    3- Tính theo qui ước “Khinh thanh, Địa trọc”.

    Trong 3 kỹ thuật ấy,
    kỹ thuật “Khinh thanh, Địa trọc”
    được dùng nhiều nhất.

    “Khinh thanh, Địa trọc” là gì ?

    Diễn nôm:
    Khinh thanh: Chất nhẹ, sạch đi lên cao.
    Địa trọc: chất nặng, ô uế đi xuống.

    * 4 chữ này có từ đâu ?

    Nó ở bên Đông Y.
    Đông Y ngày xưa luận về các chất vào cơ thể
    sẽ vận động theo cái cách:
    Chất nhẹ, sạch đi lên cao. Chất nặng, ô uế đi xuống.

    Về nguyên tắc,
    với cơ thể con người, 4 chữ này đúng vài “chỗ”.
    Bởi chỉ đúng có vài “chỗ”,
    nên nay, không ai luận theo cái cách này nữa.

    Suy rộng ra, ta sẽ thấy cái vô lý của 4 chữ này:
    Chất gây ô nhiễm, rất nhiều loại nó bay lên trời.

    * 4 chữ này, người xưa luận từ đâu ra ?

    Nhẹ là dương, Nặng là âm
    Sạch là dương. Ô uế là âm.
    Lên cao là dương. Đi xuống là âm.

    Và “rất đơn giản” ,
    người xưa đã cộng 3 dòng trên lại làm thành 1.

    Chất nhẹ, sạch đi lên cao. Chất nặng, ô uế đi xuống.

    Sự vô lý của câu này,
    tôi đã nói đến ở phần trên.

    Câu đó sai, nên ngay từ đầu
    tôi đã cho rằng kỹ thuật này sai ngay từ cơ bản.

    Đó là chưa nói đến việc áp 3 kỹ thuật này qua
    hệ chữ Latin là không khả thi.

    Bởi:

    Kỹ thuật qui ước tính nét
    thực tế, chữ Latin khi viết 1 chữ là đi luôn 1 nét.

    Nếu “linh động” tính nét theo từng ký tự, thì
    phải có 1 lý thuyết giải thích được điều ấy _ Không có !

    Kỹ thuật qui ước tính theo thanh âm
    thực tế, nhiều ngôn ngữ không có:
    4 thanh âm chuẩn như Hán ngữ.
    hay:
    6 thanh âm chuẩn như Việt ngữ,
    nhưng thanh âm của những ngôn ngữ ấy
    vẫn lên xuống khi họ nói chuyện.

    Nếu cho rằng kỹ thuật này chỉ sử dụng cho chữ viết, văn bản
    các kiểu chữ tượng hình xưa kia
    con gà, con vịt, mặt trời, con chim.....
    sẽ phải vận dụng như thế nào ?

    Các kỹ hiệu kỹ thuật như mật mã,
    sẽ phải tính ra sao ?

    Khinh Thanh, Địa Trọc đã sai.
    Áp dụng câu này để tao kỹ thuật lập quẻ cho chữ viết lại càng sai.

    Bởi sai ngay từ nguyên lý,
    nên khi áp dụng 3 kỹ thuật này qua hệ chữ khác thì .... hết đường.

    Đã có một số “sáng kiến”, như:

    Chỉ tính ký tự, không tính dấu.
    Chỉ tính theo ký tự, không tính nét.

    Sáng kiến nào cũng phải có lý thuyết phía sau.
    Không có lý thuyết để giải thích
    lại phải.... hết đường
    như cái Khinh Thanh, Địa Trọc kia.

    Kết luận:

    1- Kỹ thuật phân nét, phân số chữ ghi trong Mai Hoa Dịch Số, đã căn cứ trên “nguyên lý” sai: “Khinh Thanh, Địa Trọc”.

    2- Do xuất phát từ nguyên lý sai, nên kỹ thuật bị gán ép cho từng số lượng chữ.

    3- Và do xuất phát điểm từ nguyên lý sai, nên 3 kỹ thuật ấy không thể vận dụng qua các hệ ngôn ngữ, ký hiệu khác.

    Nói qua về Tính Danh - Nguyên lý Chủ Vị - Ký Âm Tiết:

    Khái niệm Tính Danh được tạo lập trên nguyên lý Chủ Vị với kỹ thuật lập quẻ theo nguyên tắc: “Tính theo Ký Âm Tiết”.

    - Ký Âm Tiết là thanh âm đơn giản đầu tiên mà loài người thượng cổ, lần đầu tiên đã phát âm mà trao đổi với nhau.

    - Ký Âm Tiết là thanh âm đơn giản được các loài vật sử dụng phổ biến mà chúng trao đổi với nhau.

    - Ký Âm Tiết là thanh âm đơn giản đầu tiên của đứa bé bật phát ra khi nó chào đời.

    - Ký Âm Tiết là thanh âm đơn giản đầu tiên của một đứa bé bật phát ra, khi được cha mẹ tập nói cho bé.

    Ký Âm Tiết đáp ứng hoàn toàn với nguyên lý Chủ Vị, nên
    nó đã được chọn là
    nguyên tắc để
    lập quẻ Tính Danh.

    Với khái niệm Tính Danh
    được tạo lập trên nguyên lý Chủ Vị,
    kỹ thuật lập quẻ theo nguyên tắc: “Tính theo Ký Âm Tiết”,
    mọi ngôn ngữ, ký hiệu đều tính và lập quẻ được hết.

    không chỉ văn bản, ngôn từ, câu thoại cũng vận dụng được để lập quẻ.

Chia sẻ trang này

Diễn đàn Dudoanchudich.vn Nơi giao lưu, chia sẻ kiến thức dự đoán chu dịch